Jonathan Le

Chân dung tương lai như một người trẻ tuổi

Làm cách nào để biết về một người để hiểu và để viết về người đó (cho những người khác đọc)? Nhất là khi người viết chỉ chạm mặt, tiếp xúc với đề tài phải viết vỏn vẹn đôi lần (một cách chính xác, bốn lần). Trong trường hợp này, làm cách nào để truyền đạt sự hiểu biết thiếu sót của mình (hay có thể nói, sự thiếu sót của hiểu biết) cho người khác?
Tôi gặp cô, nhìn thấy cô, ở một buổi gây quỹ của tổ chức Hoa Hậu Áo Dài, tại Paloma Café. Tôi đến sớm ngồi ở bàn báo chí. Trung Lâm tới trễ thấy còn ghế trống ngồi xuống bên cạnh. Trên sân khấu, các đương kim hoa hậu và á hậu của năm 2008 bắt đầu trình diễn, qua lại. Chúng tôi trao đổi những nhận xét ngắn, vui về từng người (đừng bắt tôi phải nói ra ở đây nội dung những trao đổi vô hại trong tinh thần “male chauvinist” đó) trong đó có cô, người mảnh khảnh và cao nhất trong số bảy người. Tôi ra ngoài trả lời điện thoại, lúc trở vào thì cô ngồi cạnh Trung. Tôi nghe loáng thoáng (bàn báo chí nằm cạnh bên cái loa lớn, liên tục xâm phạm quyền không nghe của người tham dự) trong lời giới thiệu của Trung họ tên cô: Lâm Bảo Vân, Á Hậu 2 của năm 2008. Lại thêm một người có họ Lâm giống như tôi. Điều tôi biết về cô ban đầu (hay đúng hơn, điều tôi quan tâm) đơn giản chỉ có thế: họ Lâm của cô.
Câu trả lời thích đáng và thông thường cho câu hỏi “làm cách nào” bên trên là đặt câu hỏi trực tiếp với Lâm Bảo Vân. Điều tưởng dễ dàng như thế cũng không dễ dàng trong điều kiện bình thường nhất. Trước hết, liệu người được đặt câu hỏi có trả lời thành thật cho những câu hỏi đó? Liệu trí nhớ có phản bội chính người được đặt câu hỏi hay không? Họ có quên trong khi vẫn tưởng mình nhớ rõ? Sau nữa, liệu người đặt câu hỏi (tôi) có vì chủ quan, vì gánh nặng của quá khứ (và những hệ quả của nó) chỉ đặt câu hỏi trong giới hạn đó, nghĩa là đánh giá hiện tại (từ quá khứ), nhiều hơn tìm hiểu hiện tại (độc lập với quá khứ)?
So sánh, một cách nào đó, bao hàm đánh giá. Đặt hiện tại song song với quá khứ là một cách so sánh. Đặt thế hệ ngày nay song song với thế hệ trước là một cách nói khác. Dùng sự quen thuộc của thế giới này để giải thích sự xa lạ của thế giới khác có phải là điều cần thiết phải tránh hay không nhất thiết phải tránh?
“Gia đình em vượt biên qua đây năm 1982. Em đẻ năm 1985.” Câu chuyện của Lâm Bảo Vân bắt đầu như thế. Đoạn đầu là chuyện bình thường của bất cứ người Việt tỵ nạn nào. Đoạn sau là khởi đầu của khác thường và không tránh khỏi. Vân thuộc một thế hệ không còn va chạm nào khác hơn với một Việt Nam thời chiến tranh xa xưa ngoại trừ gia đình, cái thế giới nhỏ hơn của Việt Nam đó. Cô nghe và trả lời bằng tiếng Việt là dấu vết còn lại của thế giới nhỏ bé đó. Chữ “đẻ” cô dùng khiến tôi khựng lại. Tại sao không “sinh” (tiếng Bắc) hay “sanh” (tiếng Nam)? Nhưng tại sao lại đặt chuyện dùng chữ ở đây? Người nay vẫn dùng chữ “ngày sinh tháng đẻ” có phải? Người xưa vẫn dùng “đẻ nước, đẻ cái” có phải? Chữ “đẻ” mới là chữ thuần Việt. Chữ “sinh” mới là chữ nhập cảng từ phương Bắc sau này. “Em đẻ năm 1985” xét về mặt văn phạm không có gì sai. Văn phạm Việt Nam không cần đến phân biệt hai thể “chủ động” và “bị động.” Tôi tin chắc một điều, trong một hoàn cảnh khác, (không bị báo chí Việt phỏng vấn), nhóm chữ “I was born…” sẽ được dễ dàng và tự nhiên nói ra hơn. Điều muốn nói ở đây, ở ngoài ước muốn và làm ngơ của mọi người, cái tiếng Việt được thế hệ trẻ dùng khi phải dùng, đã đánh mất cái chung (của sự đào tạo 12 năm, đánh đổi lấy thời gian ít ỏi hơn của các trường Việt ngữ tại mỗi địa phương) để trở thành và chỉ còn cái riêng (của mỗi gia đình). Tôi nói chuyện với Lâm Bảo Vân trong tình huống đó và không ngừng khuyến khích cô trình bày bằng tiếng Anh bất cứ lúc nào nếu thấy tiện. (Hay thực sự, cô cũng làm như vậy dù tôi không nói, hay cô đã làm như vậy trước khi tôi nhắc nhở)
Trong trí nhớ của Vân thời nhỏ, gia đình cô nghèo lắm. Ba đi làm tối. Mẹ đi làm sáng. Cô có người anh lớn hơn ba tuổi (hiện đi học ở xa, cô tự hào nói tiếng Việt rõ hơn người anh đó). Mẹ cô trước kia ở Sài Gòn. Ba ở đâu cô không còn nhớ. Chỉ biết trước kia ba có đi lính. Cấp bậc gì? Cô không nhớ (hay không biết và tại sao cô phải biết điều này để trả lời cho sự tò mò của tôi?).
Cô còn nhớ lần đầu tiên tới trường cô khóc và đòi về để sau cùng cả nhà phải nhượng bộ cho cô mang theo tất cả đồ chơi đi học. Cô còn nhớ khi vào tiểu học, cô phải đi bộ một mình tới trường. Đoạn đường theo cô ước tính khoảng chừng từ đường Tuylly đến đường Capitol bây giờ. Năm 1995, bà ngoại từ Việt Nam qua và ở chung nhà. Gia đình đông đúc hơn. Vào trường Herman Intermediate, cô còn nhớ có gia nhập ban nhạc trường và chơi kèn “clarinette.” Cô còn được mẹ cho học đàn dương cầm. Kỷ niệm nào thời đó cô còn nhớ rõ nhất? Chuyện xảy ra năm 1997, cô làm “French fries” nửa chừng chợt đổi ý kiến và đi ra ngoài mua thay vì phải làm. Cái bếp quên tắt. Nhà cháy. Cảnh sát và cứu hỏa tới. Nóc và nhà bếp bị thiệt hại. Cả nhà phải qua nhà bà ngoại sống một thời gian chờ sửa chữa.
Phần sau khi tốt nghiệp trung học, có lẽ cô nhớ rõ hơn. Trung học là gì, cô hỏi. Là High School. Trong ngày lễ tốt nghiệp trung học năm 2003, cô “hơi buồn” vì ba mẹ không tới dù không nhớ rõ vì lý do gì. Bạn trai cô lúc đó ở LA cũng không lên được.
Cô không chỉ buồn mà còn hối tiếc sau đó vì đã uổng mất hai năm ở “college” không đi tới đâu. Cô không đến trường West Valley vì một tương lai nhất định theo học một ngành nào. Cô chỉ ghi danh theo bạn trai “Anh học gì. Em học đó.” Tình đầu thời mới lớn. Hẳn vậy. Bây giờ nhìn lại, cô coi đó là “big mistake.”
Cô nhảy ra đi làm ở văn phòng nha sĩ và được khuyên bảo phải trở lại đi học đàng hoàng hơn. Cô nghe theo. Bây giờ cô vừa đi làm, vừa theo học Evergreen. Cô dự định sẽ theo ngành “dental hygiene” và cũng đồng thời để mắt đến ngành “nurse” sau khi nghe bạn bè góp ý kiến.
Ở đâu đó trong câu chuyện, Lâm Bảo Vân cho biết cô là người nhút nhát, không có bạn người Việt. Điều thứ hai, cô giải thích bằng lý do trường Santa Teresa High có rất ít học sinh Việt và đồng thời cô cảm thấy tự nhiên hơn với bạn người Mỹ. “Em hơi nerdy” là cách nói của cô.
Tất cả những điều này đều đổi thay khi một người bạn cho cô biết vào cuối năm 2006 là cô nên dự thi Hoa Hậu Áo Dài. Ý định được mang ra gia đình mỗ xẻ. Theo lời cô kể lại, kết quả là: Gia đình không muốn. Mẹ không muốn. Ba không “says no” nhưng mẹ không muốn thì ba cũng chìu theo ý mẹ. (Đàn ông họ Lâm dễ thương như vậy đó).
Nhưng Lâm Bảo Vân nghĩ khác hơn. Cô coi đây là dịp thử thách để đáng bại tính nhút nhát của mình. Cô muốn học một kinh nghiệm hoàn toàn khác hơn kinh nghiệm đã sống qua.
Cô nộp đơn dự thi “online” và hồi hộp chờ đợi. Rồi chuyện gì đến sẽ phải đến. Cô còn nhớ cô mang số 18 cuối cùng trong số các thí sinh dự thi. Cô đối phó với tình huống như một người đi trên mây. Ban giám khảo sẽ đặt cho câu hỏi gì có lẽ là điều dễ sợ đối với cô nhất. Cô sợ không hiểu câu hỏi tiếng Việt và nếu hiểu cô lại sợ không trả lời được, hoặc trả lời không đúng, hoặc không hay… Trước khi hoàn toàn có ý thức và tự chủ, cô chợt nhận ra mình vô “top ten.” Cô vẫn chưa tự tin lắm cho tới khi biết mình được kêu tên vào “top five.” Cô chọn đúng câu hỏi định nghĩa về “công, dung, ngôn, hạnh.” Mặc dù, theo lời cô, đó là một trong mười câu hỏi cho thí sinh chuẩn bị trước (chỉ không biết mình sẽ bốc thăm trúng câu nào thôi) nhưng rõ ràng các ông bà giám khảo muốn làm khó thí sinh. Kết quả sau cùng, mọi người đều biết: Lâm Bảo Vân được chấm giải Á hậu 2 của năm 2008.
Lễ đăng quang các hoa hậu được tổ chức ở nhà hàng Dynasty cuối tháng Hai. Lần này, trong nỗi vui mừng của Lâm Bảo Vân có sự hiện diện của ba mẹ, bà ngoại, dì và các bạn. Lúc đó, cô đã chia tay với bạn trai và họ chỉ còn là bạn nhưng anh cũng có mặt cùng với cha mẹ. (Trong số những lý do của sự gãy đổ này, cô có nói thêm: em hay bỏ người ta. Tôi lắc đầu: Trời ơi, sao ác vậy em?) Một tình bạn khác cũng vừa nẩy nở trong dịp thi đua này giữa cô với hoa hậu Linda Trần. Bây giờ nhớ lại, cô nói: Em chỉ biết đêm đó em quá mệt nhưng mà vui.
LÂM VĂN SANG