“Đoàn Phú Tứ…nhuốm thời gian” (1910-1989)
(Số 108, ra ngày 16 tháng 05 năm 2008)
9
Màu Thời Gian
“Màu Thời Gian tím ngát
Đoàn Phú Tứ-MàuThời Gian
Trên hành tinh bao la, “vô thủy vô chung” của vũ trụ, duyên vốn biến hiện trùng trùng, từ tụ duyên đến tản duyên để vừa sang tạo, vừa vun xới, xây dựng mọi Nguồn Sống trong bất cứ Cõi nào, nhưng đồng thời, duyên vẫn phải tản duyên, ly duyên, trong mọi tương quan của Duyên Sinh đến Duyên Tử.
Sở dĩ vậy vì luôn luôn duyên hàm chứa Sử Tính của Duyên tương hợp với chuyển vần, vị thế của vũ trụ được mệnh danh “Không Gian-Thời Gian” đang Vốn có lại đang Vốn không, giữa hai cực Có- Không của biến hiện! Vì thế nên Chàng đã qui định dứt khoát:
“Duyên trăm năm dứt đoạn
Đoàn Phú Tứ -Màu Thời Gian
Sử Tính của Duyên trong cõi người ta chỉ giới hạn trong “không gian và thời gian” công lệ, được “dứt khoát” trăm năm. Pháp giới của vũ trụ này như chỉ một bức tranh đi từ sinh sinh-diệt diệt theo duyên, nên mỗi cõi, mỗi cá biệt chúng sinh đều theo vòng luân chuyển của Mười Hai Nhân Duyên biến hiện, trôi nổi, hình thành, tan biến! Và cũng bởi vì mọi Nguồn Sống đều có tương quan sinh hoạt, nên trên hành trình của trùng trùng duyên khởi, luôn luôn có “đối đãi”, “thuận nghịch”, “thiện ác, hợp tan… Cho nên chỉ có Vô Thể của tuần hoàn biến hiện mới vượt qua bao nhiêu đối đãi, để thường hằng giữa hai cực Có-Không!
Chàng đã quán chiếu và chứng ngộ được Vô Thể đó cho nên đã dâng Nàng:
“Trời mây phảng phất nhuốm THỜI GIAN
Đoàn Phú Tứ-Màu Thời Gian
Chỉ có THỜI GIAN là thường hằng, vượt ra ngoài mọi sử tính, khi thời gian “ban cho” nguồn sống mọi “sử tính của hợp, tan”! Cõi nào muốn gì,vọng gì, thời gian đều “ban cho” điều đó, khi thời gian có tất cả, từ vô thủy đến vô chung, của mọi pháp giới biến hiện, sinh diệt của ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong các cảnh giới trần gian: sắc, thanh, hương, vị ,xúc, pháp! Qua những nhịp cầu “trăm năm” nối tiếp nhau trường kỳ bất tận, duyên khởi trùng trùng, sinh diệt, tương khắc, tương sinh, chỉ có Thời Gian vô định kỳ mới tạo thành Sử Tính của Nguồn Sống, cho nên phối hợp Thời Gian Vô Thể cùng với Diệu hữu biến thể, mới cảm nhận được Nguồn Tình qua pháp giới chân dung, để khi muốn đạt Chân Dung Hằng Thường, phải vận dụng đến Thời Gian đang trổ hoa Diệu Hữu:
“Tình một thuở còn hương
Đoàn Phú Tứ-Màu Thời Gian
Từ “một thuở” vốn “không” của Thời Gian, người Tình bỗng dưng như Có, như Còn trong tính phàm diệu hữu, nên Tình như được thường hằng với Thời Gian:
“Hương thời gian thanh thanh…
Đoàn Phú Tứ-Màu Thời Gian
Vì Hương ở trong Tình, nên Tình được thường hằng trong Thời Gian, vì quán được Thời Gian là chứng ngộ được Hương, chứng ngộ được hương, quán được Tình Thường hằng như CÒN, không bao giờ dút đoạn như duyên chỉ một trăm năm!
Cho nên ChânDung Người Tình luôn CÒN; từ Sáng Nay, từ tiếng chim, từ âm thanh, từ làn gió cho đến làn hương, vì Nàng Thường Hằng ngay từ thể “Không” của Thời Gian; Sáng Nay tạo thành “Một Thuở”, không kể ngày, không đếm năm, không đếm tháng, không đếm cả từng sát na vi cực, từ bao la của Đạo Tình vô lượng, vô biên luôn luôn còn hương, vì Đạo vốn bất sinh, bất diệt!Chỉ có đem Diệu Hữu (Tình Phàm) hoàn lại Chân Không (Đạo) mớiquán được hành trình Siêu Phàm Nhập Thánh của Chân Dung Người Tình chỉ được quán chiếu không phải bằng vật thể, mà chính bằng Thời Gian!
Tranh số 10-Hành trình Dung thông của Chân Không+ Diệu Hữu
của PhàmThể+ Thánh Tình
từ Siêu Thánh Nhập Phàm đến Siêu Phàm Nhập Thánh
Thời Gian vì thế là “thể” dung thong giữa Chân Không và Diệu Hữu, khi con người với khả năng vật thể của “ngũ giác quan”, của biến hiện giữa bao nhiêu hoàn cảnh và biểu tượng của sinh hoạt màu sắc, âm thanh, hương vị, cảm xúc, chuyển động, ý tưởng chỉ có thể “nhận diện” được Thời Gian qua bao nhiêu tiếp thu giới hạn của PhàmThể, Phàm Tình! Vì thế khi Nguồn Sống và NguồnTình kết hợp được trong các thể Diệu Hữu “nhuốm” thời gian, con người mới quán chiếu được lẽ huyền vi của CHÂN KHÔNG trong ấy muôn ngàn duyên khởi hoá hiện sinh sinh diệt diệt đang diễn ra, và nếu không ngộ được THỜI GIAN thì luôn luôn đau khổ.
Chỉ khi Ngộ được Thời gian mới chứng được những biến hiện của Diệu Hữu như Sáng Nay, như tiếng chim, như tiếng gió…cụ thể, rồi mới đến huyền thể như thanh thanh,như tím ngát; hương màu tan dần vào vô biên huyền cực của chân không khi khả năng con người chỉ có thể quán được từ từ, từ không, đến có, và từ có đến không trong dàn trãi mênh mông của vũ trụ!
Cho nên trong “Cõi Người Ta” hay “Cõi” nào khác, có những tương quan về sinh hoạt như cõi này, người ta luôn xử dụng Diệu Hữu để qui định Thời Gian, “chiếu cố” cho Thời Gian phẩm chất công lệ của Phàm Trần, để con người có thể cùng nhau thông cảm, đối đãi trong đệ nhị nghĩa đế của “ngôn thuyết” nên Thiền Sư Từ Đạo hạnh (Việt Nam -1115) từng quán chiếu mối tương quan CÓ-KHÔNG (Diệu hữu-Chân Không) đó qua lời kệ:
“Tác hữu trần sa hữu
“Vi không nhất thiết không
“Hữu không như thủy nguyệt
“Vật trước hữu không không
Từ Đạo Hạnh-Kệ
Phóng dịch:
“Có, thì muôn sự Có
“Không, tất cả đều không
“Có không như trăng đáy nưóc
“Vướng chi có cùng không!
(Còn Nữa)









